Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát Thần Chú



Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát Thần Chú

Tống Đàm Ma Mật Đa dịch

Bản Việt dịch của Tuệ Khai

***

Tôi nghe như vầy, một thuở đức Phật trụ ở núi Khư La, nương theo chỗ ở của Chánh Giác Tiên, cùng với vô số chúng đại Tỳ kheo Thanh văn, cũng cùng với vô lượng a tăng kỳ hằng hà sa số đại Bồ tát. Đức Phật diễn nói Kinh Như Lai Công Đức xong rồi thì bấy giờ, ở phương Tây có báu Như ý xuất hiện với vô lượng trăm ngàn báu Thích ca tỳ lăng già trang nghiêm giáp vòng. Ánh sáng của ngọc báu đó che mất ánh sáng của tất cả sắc tượng khác, chỉ thấy đức Như Lai và báu Như ý, còn vô lượng vô biên chẳng thể nói sắc tượng khác nhìn thấy như hư không. Uy quang của đức Như Lai lại cùng rất minh hiển thì các chúng hội này chẳng nhìn thấy thân mình, đều chẳng thấy nhau. Những sắc tượng của đại chúng đều diệt không còn, chẳng cùng là đối tượng của mắt, chẳng thể thấy được sắc thân và sự chạm xúc. Theo sự quan sát nhìn xem của họ thì chỉ thấy toàn là hư không, cũng chẳng thấy mặt trời, mặt trăng, tinh tú, địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới… chẳng cùng là đối tượng của mắt. Tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng ngửi hương, không tâm và tâm số, không ngã và ngã sở và sáu nhập khởi tưởng. Họ ngắm nhìn phương khác chẳng thấy được các đại, ở tại khắp các địa phương chỉ thấy thân Phật với sắc tướng quang minh, cũng lại thấy từ xa ngọc báu Như ý với vô lượng trăm ngàn báu Thích ca tỳ lăng già trang nghiêm giáp vòng, còn ngoài ra không thấy gì cả. Ở trong chúng này có Đại Bồ tát trụ ở thập địa đắc thực Lăng nghiêm tam muội, có thân tối hậu Nhất sanh bổ xứ, thấy tướng như vậy chẳng kinh sợ. Bồ tát này hiểu rõ tánh các pháp rỗng không như thật tế nên chẳng kinh, chẳng bố, chẳng úy, còn các Đại Bồ tát khác, Thanh văn, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Tỳ xá già, Phú đơn na, ca tra phú đơn na, người và chẳng phải người ở tại trong hội thì rất kinh hãi sợ sệt, phát sinh ra lo buồn. Đây đó che tối, lòng họ loạn động đều chẳng thấy nhau, đều không chỗ hỏi. Việc ấy là sao? Vì nhân duyên gì vậy? Là chính sức của ai? Lúc bấy giờ, trong chúng có vị Đại Bồ tát tên là Phạm Đức chắp tay hướng về đức Phật mà nói kệ rằng:


Tất cả pháp tính Như


Người không có biết thì


Nương trụ ở sắc ấm


Che tối sáu tình căn


Chẳng thấy ở một ấm


Tư duy cầu năm ấm


Với Phật pháp nghi nan


Trong này có người đó


Như đây, đó cũng thế


Tổng biết tính hư không


Tam muội đó dũng kiện


Thân ấy nói chẳng cùng


Ngọc báu lớn Như Ý


Trên đỉnh (Bồ tát) ấy hiện lên


Thích Ca Lăng Già bảo


Từ xa thấy rõ đó


Là đại tuệ chúng sinh


Độ Thủ Lăng tam muội


Tất cả bậc Đại tuệ


Muốn đến thấy Thế Tôn


Nay nói thậm thâm pháp


Quyết định không nghi nan


Ở chúng này an ủi


Đều đến qui Thế Tôn


Người dũng kiện hành xử


Giáo hóa (thành) thục chúng sinh.


Bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ rằng:


Như vậy ông biết Như


Người tam muội hành xử


Nếu nghe chính trú xứ


Là trụ tuệ chúng sinh


Đây là việc hành xử


Bồ tát Hư Không Tàng.


Không nương, không hí luận


Tam muội đó hiện lên


Chúng sinh chấp hại kiến


Hay bị cướp đoạt luôn


Chấp thường, đoạn hai kiến


Che tối đây, đó thường


Như vậy là hai kiến


Muốn được giải thoát xong


Tính ấy chẳng thể nói


Các địa mau chứng thành.


Lại nữa, này thiện nam tử! Với Đại Bồ tát mới phát tâm đó thì nên nói tướng cảnh giới ban đầu, gọi là sáu Ba la mật… cho đến việc biết tính Như Thật của những đại sinh diệt. Rồi nhiên hậu biết tất cả pháp chẳng thể nói, không tính, không sinh, không diệt, không cảnh giới, chẳng động, chẳng lay. Rồi như vậy tu hành tất cả các hạnh, như vậy mà đoạn lìa hết hai kiến đoạn và thường, chẳng sinh ra kinh sợ, đối với tất cả pháp chẳng dấy khởi lòng cảnh giới, mau chóng được đầy đủ sáu Ba la mật, lại chẳng trụ ở trong đoạn kiến, thường kiến nữa.


Đức Phật nói thế rồi thì tất cả đại chúng thấy, nghe, hay, biết sắc tướng như cũ.


Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn duỗi cánh tay phải của mình, nói lên rằng:


– Đó là Đại Bồ tát Hư Không Tạng đến!


Nói lời đó xong, ngài bảo với các đại chúng rằng:


– Bồ tát Hư Không Tạng đó được các tam muội giống như biển cả, giữ giới Bồ tát như núi Tu di, sự thông đạt của trí giống như hư không, siêng hành tinh tấn giống như gió nhanh, tu hành nhẫn nhục giống như Kim cương, tuệ Bồ tát ấy như không. Ông ấy ở trong các Bồ tát giống như thắng tràng, là người dẫn đường hướng về Niết bàn, là kho của tất cả căn lành, là bình báu của người nghèo, là mặt trời của kẻ vào tối, là ánh trăng của kẻ lạc đường, là núi đại Tu di của người sợ hãi, là nước cam lộ của người bị phiền não cháy nóng, là đất gieo trồng của tất cả người gieo căn lành, là cầu của người đi đến đại Niết bàn, là thuyền của người rơi vào ác đạo, là thềm bậc của người sinh lên trời, là nơi cứu hộ của kẻ ác khẩu chê bai, là táng che của người nhiệt não, đối với ngoại đạo như vua sư tử, nhiếp lấy các kiến giống như gương nước, là áo giáp đồng trong ma oán, là thuốc của người hủy giới, là đất tu lành các gốc thiện, là hoa của người làm vòng hoa cài tóc, là kho tàng của người đủ hạnh, là quần áo thượng diệu của người không tàm quí, là thầy thuốc giỏi của người bệnh, là đồ ăn của người đói, là nguyệt châu của người khát, là giường của kẻ cực nhọc, là mặt trời của người tu tam muội chánh hạnh, là xe lớn của người hướng về Bồ đề, là thắng địa của người du hí thiền định, là bánh xe báu của kẻ trợ Bồ đề. Này thiện nam tử! Đây chính là quả báo của người hướng về Ba la mật. Vị thiện nam tử này lại chính là ngọc báu Như ý của người tiến tu hành mười địa. Thiện nam tử này chính là cây Ba-lợi-chất-đa-la của người Thủ lăng nghiêm tam muội, là lưỡi dao của người đoạn dứt tà kiến kết sử, phá các tập khí giống như Kim cương, có thể hàng phục các ma, là phương tiện tốt, là ý khai phát, là chỗ nương của tất cả Phật pháp, là hoa mạn của Viên giác, là y phục của Thanh văn, là nhãn mục của chư thiên, là chánh đạo của loài người, là chỗ về của súc sinh, là nơi ủng hộ của ngã quỉ, là đấng cứu hộ của địa ngục, là ruộng phước của tất cả chúng sinh, là xe lớn của các vị Đại Bồ tát. Vị thiện nam tử này chính là vị tối đại phụ thần của Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri… ba đời, hộ trì của thành pháp. Vị thiện nam tử này thậm chí đầy đủ mười tám pháp bất cộng để tự trang nghiêm, được thành tựu đầy đủ Phật trí. Vị thiện nam tử này là vị ứng cúng của tất cả chúng sinh chỉ trừ đức Như Lai, là bậc tối thắng trong tất cả những bậc ứng cúng khác. Đại chúng các ông đều nên phụng ngưỡng, đều tùy theo năm lực của mình mà bày biện đồ cúng để cúng dường cung kính tôn trọng vị Bồ tát đó. Các ông nên dùng đủ thứ trân bảo, tràng phan, bảo cái, hương xoa, hương bột, y phục, chuỗi ngọc… đủ thứ tạp vật, sửa trị đường cái sạch sẽ và trang nghiêm đủ thứ, đem đủ thứ lời khen ngợi mà ngợi khen Bồ tát đó. Các ông chẳng bao lâu sẽ được công đức khí đó!


Bấy giờ, tất cả đại hội đều chung hòa hợp, đứng dậy hướng về phương thị hiện của Đại Bồ tát Hư Không Tạng, kẻ vòng tay, người chắp tay, lòng họ hoan hỷ, diện mạo vui tươi, bằng mắt thanh tịnh quan sát, ngắm nhìn kỹ càng Bồ tát đó. Đến đây, trong chúng từ các vị Đại Bồ tát và Đại Thanh văn đến chúa trời, chúa rồng, chúa Dạ xoa, chúa A tu la, chúa Già lưu la, chúa Khẩn na la, chúa Ma hầu la già và tiên ngũ thông đều tác khởi ý niệm này: “Sẽ thiết bày đồ cúng tối thắng tối thượng gì để cúng dường vị thiện nam tử đó?”. Bấy giờ, Đại Bồ tát Hư Không Tạng biến cõi Ta Bà thành đất bằng như bàn tay trang nghiêm bảy báu, trừ khử các núi, đồng trống, gò đống, tướng vách, gạch ngói, tro, phẩn hôi thối, bụi bặm, sương móc, mây mù sấm sét, tiếng càn thát bà. Tất cả cây cối biến thành bảy báu, hoa lá quả hương đều đầy đủ. Nương theo đất cỏ cây, cành, đốt, thân, lá cũng biến hóa thành bảy báu. Cả thế giới Ta bà tiêu trừ hết tất cả bệnh, tất cả địa ngục, súc sanh, ngã quỉ, không có các khổ não, được những đồ dùng như quần áo, đồ ăn, thức uống, chuỗi ngọc.v.v… tất cả chúng sinh trong cõi Ta Bà được biến thành diệu sắc Như Ý, đoan nghiêm uy đức đệ nhất, chi tiết thân thể đầy đủ, tiêu trừ các kết sử, lòng được tịch tịnh. Đối với các căn lành, lòng họ mừng vui, đem lòng thanh tịnh an trụ ở Tam Bảo. Hai tay của chúng đã tập họp nơi đây tự nhiên có “hóa Như Ý bảo”. Mỗi mỗi Như ý bảo đều phát ra ánh sáng, chiếu soi khắp thế giới Ta Bà. Những ngọc báu này lại phát ra âm nhạc vi diệu. Trời mưa xuống đủ thứ báu, đủ thứ áo đẹp, đủ thứ chuỗi ngọc… mưa xuống đủ thứ chuỗi ngọc móc khóa vàng, chuỗi ngọc chân châu… Lại mưa xuống đủ thứ hoa đẹp, hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng và hoa trên nước, hoa trên đất… Lại mưa xuống hương thơm Đa ma bát, hương thơm bột Ngưu đầu chiên đàn… để trang nghiêm đường đi. Hai bên đường đi ấy hóa ra những tòa nhà thất bảo như Đế Thích đường. Ở bên trong tòa nhà ấy hóa ra các thể nữ giống như hoàng hậu của ma, tấu lên âm nhạc năm cung, vui sướng thọ lạc. Trong hư không ở bên trên đức Phật, hóa ra bảo cái nhà trời đầy một trăm do tuần, trang nghiêm bằng lưới báu tươi sạch thanh diệu. Trong lưới ấy trang nghiêm bằng những xâu chân châu treo lủng lẳng. Chúng tấu lên mọi thứ kỹ nhạc hơn cả nhạc trời. Trong ruộng đất, cỏ cây, rừng rậm, hoa lá, các trái cây đều phát ra diệu âm thù thắng hơn cả âm nhạc nhà trời. Có người nghe được âm thanh này thì đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác được chẳng thoái chuyển. Bấy giờ, tất cả những chúng của đại hội thấy Đại Bồ tát Hư Không Tạng tạo tác sự trang nghiêm này thì được điều chưa từng có dấy lên ý nghĩ rằng: “Chúng ta làm gì cho vị thiện trượng phu đó? Ở trước đức Thế Tôn chúng ta phải thiết lập tòa ngồi thế nào?” Bấy giờ, trước đức Phật xuất hiện hoa sen báu với bạch ngân làm thân, hoàng kim làm cánh, mã não làm đài, báu phạm ma ni làm tua. Hoa ấy dọc ngang mười dặm. Lại có vô lượng trăm ngàn hoa sen báu như vậy vây quanh hoa ấy giáp vòng. Đại chúng thấy Đại Bồ tát Hư Không Tạng bỗng nhiên ngồi kiết già ở trên hoa, thấy ngọc báu Như Ý ở trên đỉnh đầu Bồ tát ấy, thấy quyến thuộc đem theo của Bồ tát Hư Không Tạng cũng đều ngồi trên những đài hoa sen còn lại.


Lúc bấy giờ, Đại Bồ tát Di Lặc dùng kệ hỏi Bồ tát Dược Vương rằng:


Như những bậc đến trước


Bồ tát đại danh xưng


Trước cung kính lễ Phật


Nhiên hậu mới ngồi lên


Thiện trượng phu này đến


Thị hiện đại trang nghiêm


Chẳng kính lễ đức Phật


Chợt thấy đã ngồi liền.


Bấy giờ, Bồ tát Dược Vương dùng kệ đáp Bồ tát Di Lặc rằng:


Thấy Đại trượng phu đó


Khéo trụ pháp Thế Tôn


Là chẳng thấy sinh chúng


Tất cả tưởng chẳng nương!


Bấy giờ, Bồ tát Di Lặc lại dùng kệ nói rằng:


Nếu chẳng thấy chúng sinh


Là an trụ thật tế


Vì nghĩa gì trang nghiêm?


Xin vì tôi hiển nói!


Bấy giờ, Bồ tát Dược Vương lại dùng kệ đáp rằng:


Phương tiện đó dũng kiện


Giáo hóa các chúng sinh


Chẳng biết đệ nhất nghĩa


Phàm phu vọng tưởng hành.


Người thông tuệ thế đế


Thọ khổ vì mê chân


Vì giải thoát bọn đó


Hiện như vậy trang nghiêm.


Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen Bồ tát Dược Vương rằng:


– Hay thay! Hay thay! Vị thiện trượng phu đó, đúng như lời nói của ông! Giả sử tất cả các phàm phu chẳng thể biết được hành xứ giải thoát của một Tu đà hoàn. Tất cả chúng sinh được Tu đà hoàn chẳng thể biết được hành xử giải thoát của một Tư đà hàm. Tất cả Tư đà hàm, A na hàm, A la hán cũng lại chẳng thể biết được hành xử giải thoát của một Bích Chi Phật. Tất cả chúng sinh làm Bích Chi Phật độc nhất kỳ lân (?) cũng chẳng biết được sự khéo léo phương tiện giáo hóa chúng sinh của một Đại Bồ tát Vô sanh nhẫn. Tất cả chúng sinh được Vô sanh nhẫn chẳng biết được hạnh giải thoát đệ nhất nghĩa đế của một Đại Bồ tát được Thủ Lăng Nghiêm tam muội vô ngại biện tài. Này thiện nam tử! Vị Hư Không Tạng đó đã được Vô sanh nhẫn, được Vô ngại biện, được Thủ Lăng Nghiêm tam muội nên biết được thiện căn trong lòng của đại chúng này hơn vô lượng kiếp nên phải thị hiện Đại trang nghiêm, trụ ở Ly dục địa. Vị thiện nam tử này từ phương Tây biến mất mà hiện đến đây, thị hiện đồng đẳng với những Thanh văn, Duyên giác, vào đến vô lượng không xứ tam muội, hiện lên thần thông, tất cả chúng sinh phát sinh lòng lạ lùng. Ông lại đối với thế đế thị hiện trang nghiêm, giáo hóa vô lượng những chúng sinh. Thiện nam tử đó nếu hiện đệ nhất nghĩa đế trang nghiêm thì chẳng những người trời đều phải kinh sợ mất tâm mà đến cả Bồ tát bát địa cũng lại mất tâm, không thể thấy tướng mạo của hạnh ấy để vào pháp công đức thậm thâm như vậy.v.v… Thiện nam tử đó giỏi biết phương tiện, độ qu